10 ĐIỂM NỔI BẬT VỀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ HỘI TỈNH BẮC NINH NĂM 2019

10/02/2020 11:03 Số lượt xem: 188

Năm 2019, được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của Trung ương cùng sự đoàn kết, thống nhất trong toàn Đảng bộ; sự chỉ đạo tập trung, quyết liệt của các cấp, các ngành; sự tham gia tích cực của cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân, tỉnh Bắc Ninh đã nỗ lực thực hiện đồng bộ các giải pháp và đạt được một số kết quả quan trọng trên các lĩnh vực.

1. Trong bối cảnh kinh tế tế giới có nhiều diễn biến phức tạp và tăng trưởng chậmlại, nhưng quy mô kinh tế của tỉnh Bắc Ninh vẫn tiếp tục được mở rộng. Theo giá hiện hành, GRDP năm 2019 đạt 197,9 nghìn tỷ đồng, tương đương 8,5 tỷ USD,chiếm 3,3% GDP cả nước; GRDP bình quân đầu người đạt 143,5 triệu đồng (tương đương 6.163 USD), gấp 2,3 lần bình quân chung cả nước (2.687 USD) và xếp thứ 2/63 tỉnh, TP (Sau Bà Rịa -Vũng Tàu).

2. Sản xuất nông nghiệp tiếp tục mở rộng diện tích trồng trọt ứng dụng CNC, chất lượng cao, tiêu chuẩn Vietgap. Đến hết năm 2019, toàn tỉnh đã hình thành 263 vùng sản xuất hàng hóa tập trung quy mô từ 5 ha trở lên, góp phần đưa giá trị sản xuất (giá so sánh 2010) của ngành trồng trọt đạt 3.630 tỷ đồng, tăng 2,1% so với năm 2018.

3. Mặc dù, sản xuất của khu vực FDI gặp khó khăn do ảnh hưởng của cuộc chiến thương mại giữa các cường quốc và các tập đoàn kinh tế lớn, nhưng đã phục hồi trong những tháng cuối năm, đưa quy mô công nghiệp của Bắc Ninh năm 2019 đạt 1,24 triệu tỷ đồng (theo giá hiện hành), giữ vững vị trí thứ nhất trong cả nước. Trong đó, ngành công nghiệp điện tử chiếm 80% trong toàn ngành công nghiệp và sản xuất 104 triệu điện thoại di động các loại, chiếm 43,4% sản phẩm cả nước.

4. Kim ngạch xuất khẩu 35 tỷ USD, chiếm 13,3% kim ngạch xuất khẩu cả nước, xếp thứ 2/63 tỉnh/TP (Sau TP. HCM là 39,7 tỷ USD). Trong đó, kim ngạch xuất khẩu điện thoại và linh kiện đạt 28,4 tỷ USD, chiếm 81% kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh và chiếm 54,7% kim ngạch xuất khẩu nhóm mặt hàng này cả nước. Quy mô hoạt động thương mại, dịch vụ tiếp tục được mở rộng. Đến hết năm 2019, trên địa bàn tỉnh đã có 3 trung tâm thương mại, 30 siêu thị hạng 3 trở lên, hơn 150 siêu thị mini/cửa hàng tiện lợi và hàng trăm siêu thị gia đình,... tạo thành kênh phân phối hàng hóa và dịch vụ gắn kết giữa thành thị và nông thôn, giữa Bắc Ninh với các tỉnh, thành phố lân cận. Tổng doanh thu bán lẻ hàng hóa và dịch vụ năm 2019 ước đạt 61,2 nghìn tỷ đồng, tăng 12,7% so với năm 2018.

5. Chương trình khởi nghiệp, hỗ trợ phát triển doanh nghiệp được chú trọng và thực hiện có hiệu quả. Trong năm, đã cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho 2.398 doanh nghiệp với tổng số vốn đăng ký đạt 22,21 nghìn tỷ đồng; so với năm 2018, tăng 17,6% về số doanh nghiệp và tăng 34,5% về vốn đăng ký. Lũy kế đến hết 2019, toàn tỉnh có 16.506 doanh nghiệp đăng ký theo Luật DN với tổng vốn hơn 241 nghìn tỷ đồng. Trong đó, đã có 11.663 DN độc lập đang thực hiện nghĩa vụ với NSNN. Cấp mới đăng ký đầu tư cho 251 dự án FDI và điều chỉnh tăng vốn cho

6. Quy mô kinh tế tiếp tục mở rộng, các hoạt động SXKD phát triển, số doanh nghiệp gia nhập thị trường gia tăng, đã góp phần tăng thu ngân sách. Tổng thu ngân sáchNhà nước cả năm đạt 30.431 tỷ đồng, vượt 11,1% dự toán và tăng 8,4% so với năm 2018; đóng góp vào ngân sách Trung ương hơn 10.000 tỷ đồng. Trong đó, thu nội địa đạt 24.369 tỷ đồng, tăng 11,2% so với năm 2018.

7. Chất lượng giáo dục toàn diện của các cấp học duy trì ở mức độ cao, vững chắc. Trong năm, thi học sinh giỏi quốc gia THPT đoạt 52 giải (đạt 81,2%), có 2 học sinh trường THPT Chuyên Bắc Ninh đạt giải Nhất thi KHKT cấp quốc gia được lựa chọn dự thi Intel - ISEF 2019 quốc tế tại Hoa Kỳ; tỷ lệ học sinh đỗ tốt nghiệp năm 2019 đạt 99,15%, trong đó có 01 học sinh đạt điểm cao nhất cả nước khối A; 100% giáo viên có trình độ đạt chuẩn và trên chuẩn đạt 85,3%; tỷ lệ phòng học kiên cố cao tầng  đạt 98,5%; tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đạt 94,6% (trong đó khối tiểu học và THPT công lập đạt 100%).

8. Chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững tiếp tục được thực hiện có hiệu quả bằng nhiều hình thức và huy động từ nhiều nguồn vốn, nên tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo giảm nhanh. Trong năm, đã khởi công xây dựng và hoàn thành 440 căn nhà cho hộ nghèo; tặng quà cho 6.743 hộ nghèo với tổng kinh phí là 3,41 tỷ đồng và có 40.700 nhân khẩu thuộc hộ nghèo, cận nghèo được cấp thẻ BHYT miễn phí. Đến cuối năm, toàn tỉnh còn 5.593 hộ nghèo, chiếm 1,62% tổng số hộ toàn tỉnh; so với cuối năm 2018, giảm 1.150 hộ; số hộ cận nghèo còn 7.470 hộ, chiếm 2,17%, giảm 668 hộ.

9. Mức sống của dân cư được nâng lên cả về lượng và chất. Thu nhập bình quân một nhân khẩu một tháng đạt 4.957 nghìn đồng, gấp 1,3 lần bình quân chung cả nước và xếp thứ 6/63 tỉnh, TP. Trong đó, thu nhập bình quân của người lao động trong khu vực DN đạt 9,9 triệu đồng/tháng (riêng khối DN FDI đạt 11,4 triệu đồng). Tỷ lệ bao phủ BHYT đạt 95% dân số; tỷ số giới tính khi sinh là 115,2 bé trai/100 bé gái, giảm 1,5 điểm % so với năm 2018; bình quân đạt 30,6 giường bệnh/1 vạn dân và đạt 10 bác sỹ/1 vạn dân.

10. Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới tiếp tục được đẩy mạnh gắn với thực hiện cuộc vận động Toàn dân đoàn kết xây dựng nông thôn mới, đô thị văn minh đạt kết quả rất tích cực. Cơ sở hạ tầng và đời sống vật chất, tinh thần của người dân khu vực nông thôn được cải thiện rõ rệt. Đến hết năm, Bắc Ninh đã có 89/97 xã (chiếm 91,8%), xếp thứ 6/63 tỉnh, thành phố và có 5 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn và hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới; so với năm 2018, tăng 16 xã và tăng 2 huyện. Số tiêu chí đạt chuẩn bình quân là 18,67 tiêu chí/xã, tăng 0,42 tiêu chí/xã so với cuối năm 2018./.

BAN BIÊN TẬP

 
 

Thống kê truy cập

Trực tuyến : 4286

Đã truy cập : 43594414